Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2010

Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ


DẠY VÀ HỌC. Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ là hai danh nhân cùng thời  Nguyễn Du (1765-1820) là nhà thơ lỗi lạc, nhà ngoại giao xuất chúng. Ông cũng là một võ quan có chí lớn, nhà lãnh đạo đặc biệt tài năng đã từng đương đầu với Nguyễn Huệ, đối thoại với Gia Long, hiểu rõ  Nguyễn Văn Thành, thân thiết với Nguyễn Nễ, Vũ Trinh, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức. Ông hiểu sâu Lý số, thông tỏ Phong Thủy, rất vững Thiền học, thành thạo biến Dịch, đã đọc trên nghìn lần bộ kinh Kim Cương, với tâm sự gửi gắm Truyện Kiều và câu thơ kỳ bí: "Ba trăm năm nữa chốc mòng/ Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như" . Nguyễn Công Trứ (1778-1858) kém Nguyễn Du 13 tuổi và cùng đồng hương Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Ông là một vị tướng văn võ song toàn, phong lưu đa tình, gian thần đời loạn năng thần đời trị  Nguyễn Công Trứ có công với triều Nguyễn trong cai trị, dẹp loạn . Ông  cùng chủ kiến với Gia Long,  Minh Mệnh ra tay trước (tiên phát chế nhân) để chặn bước những người xuất chúng và các thế lực tiềm tàng ngấp nghé ngai vàng.  Nguyễn Công Trứ luận về Thúy Kiều nhưng thực chất là luận về Nguyễn Du: "Bán mình trong bấy nhiêu năm , Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai ." Nguyễn Công Trứ thân mật hay chống đối Nguyễn Du đó là điều hậu thế cần lý giải cho đúng? Chợt nhớ câu của Từ Thứ nói với Bàng Thống: "Hoàng Cái làm khổ nhục kế, Hám Trạch đưa thư trá hàng, còn ngươi thì dụng kế liên hoàn. Ngươi che được mắt Tào Tháo nhưng đừng hòng che được mắt ta...". Sâu sắc thay Nguyễn Du với Truyện Kiều và các ứng xử tuyệt vời thông tuệ của ông để tránh những thăng giáng tám lần như Nguyễn Công Trứ và kết cục thảm khốc của Nguyễn Văn Thành, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Văn Duyệt ! Chép lại bài viết của Yến Nhi "Về sự đánh giá Nguyễn Du của Nguyễn Công Trứ qua nhân vật Thúy Kiều” và bài viết của Phạm Xuân Nguyên “Nguyễn Du về lại Thăng Long “  để thêm tư liệu và những góc nhìn khác. (Hoàng Kim)
 
VỀ SỰ ĐÁNH GIÁ NGUYỄN DU CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ QUA NHÂN VẬT THÚY KIỀU

Yến Nhi

Dưới góc nhìn văn hóa , Nguyễn Du (1765-1820) là nhà thơ lớn của dân tộc, tuy nhiên qua cuộc đời và sự nghiệp , dưới góc nhìn lịch sử, ta còn thấy nhiều nét nổi bật nữa ở con người Nguyễn, một thiên tài có nhiều tâm trạng, một con người “ba mươi tuổi đầu đã bạc”, hơn nửa thế kỷ trong cõi đời rất hiếm khi vui, đến lúc về nơi chín suối vẫn mang một tâm sự cô hoài! Là một nhà thơ lỗi lạc, ông còn là một võ quan nhiều mưu đồ đại nghiệp, một vị văn quan rất biết cách “chăn dân”, cũng là một nhà ngoại giao xuất chúng. Nhận xét tổng thể về Nguyễn Du ,thấy rõ những tài năng đa dạng  và công lao của ông , các cụ đời sau  đã  thể hiện rất sâu sắc qua các bài văn truy điệu, văn bia trong các dịp tưởng  niệm .

... Khi trưởng thành Ất bảng chen tên, tài thư  kiếm vang lừng hai vế
Những muốn hùng binh mấy vạn rắp phen Trương Tử phục Hàn gia .
... Khi thủ hiến Tiên châu, khi Thần kinh lĩnh doãn, đức thanh cần thấm thía đến muôn dân…
Lúc Bắc hành chánh sứ, lúc Nam khuyết á khanh tài thao lược vang lừng trong hai nước…(1)

Một nhân cách,một sự nghiệp như vậy, nhưng tại sao một người cùng thời cũng tài năng sự nghiệp không kém lại là đồng hương , hạ một lời phê từng làm băn khoăn bao thế hệ. Nguyễn Công Trứ nhận xét Kiều thực ra là nhận xét Nguyễn Du Bán mình trong bấy nhiêu năm ,Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai (2) ( Vịnh Thuý Kiều ).

Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858) kém Nguyễn Du 13 tuổi (1765-1820), mất sau Nguyễn Du 40 năm, quê làng Uy Viễn, nay là xã Xuân Giang đồng hương huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông làm quan dưới các triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, đến chức phủ doãn Thừa Thiên thì nghỉ hưu.. Trong 28 năm quan trường, thăng tiến và giáng chức đến 8 lần. Ông nhiều lần cầm quân đi đánh giặc (dẹp một số cuộc khởi nghĩa của nông dân) lập nhiều công lớn với triều đình. Đặc biệt vào những năm cuối thập niên 1820, ông có sáng kiến chiêu mộ dân nghèo, đắp đê lấn biển, lập ấp, khai sinh các huyện Kim Sơn, Tiền Hải (thuộc hai tỉnh Thái Bình,Ninh Bình ngày nay), kiếm công ăn việc làm cho nhiều người xoá bỏ nạn trộm cướp, lập nhà học, hội buôn (xã thương) ở nông thôn nâng cao dân trí, thông thương hàng hóa. Những hoạt động của ông trong lĩnh vực khẩn hoang được nhân dân các vùng ghi nhớ, lập đền thờ ngay khi ông đang còn sống. Là một nhà quản trị giàu năng lực, một vị tướng tài, ông còn là một nhà thơ, một nghệ sĩ lớn. Ông để lại nhiều sáng tác thơ Nôm theo thể thơ đường luật và ca trù. Nội dung thơ phong phú, đa dạng, từ than cảnh nghèo, vạch trần nhân tình thế thái, đề cao chí nam nhi, đến ca ngợi thú cầm kì thi tửu. Trên phương diện tư tưởng và tâm lý Nguyễn Công Trứ là một khối mâu thuẫn lớn! Sinh thời ông vượt qua những lề thói bảo thủ, giả dối, tỏ một thái độ “phóng dật” bất cần trong lối sống, thách thức công nhiên dư luận, nhưng ông không vượt khỏi cái quỹ đạo tư tưởng Nho giáo mà đôi khi còn tỏ ra chịu chi phối nặng nề (đạo vua - tôi,nam trọng - nữ khi). Nguyễn Công Trứ có một nhân sinh quan tuy có nhiều khía cạnh  tích cực đổi mới vượt ra khỏi những chuẩn tắc thời bấy giờ nhưng căn bản vẫn nằm trong phép xuất xử Nho gia. Hiểu được tính hai mặt này trong tính cách của Nguyễn Công Trứ là một điều cần thiết để đánh giá con người cũng như ngôn thuật của ông. Cho mãi đến nay có hai điều người ta vẫn băn khoăn khi giải thích về tư tưởng và tình cảm của Nguyễn Công Trứ:

1.Tuy giúp ích cho nông dân trong công cuộc khai khẩn điền địa ở Thái Bình nhưng ông cũng lại tiến hành nhiều cuộc đàn áp khốc liệt nông dân khởi nghĩa .

2. Sống hành lạc phóng lãng rất gần gũi với giới ca nhi,nhưng đánh giá rất khe khắt với Thuý Kiều, một siêu kỳ nữ - nhân vật mang nhiều tâm sự Nguyễn Du.

Vấn đề thứ nhất, mối quan hệ với nông dân, nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích . Chúng tôi , sau đây, thử  lý giải vấn đề thứ hai : quan hệ với nhân vật Thuý Kiều.

Bán mình trong bấy nhiêu năm , Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai .

Nguyễn Công Trứ  đánh giá Thuý Kiều  có lẽ là khe khắt nhất trong số các nhà nho thời bấy giờ.Ông cho Kiều bán mình đi làm “vợ” khắp người ta là tính cách “tà dâm” không đánh lừa được người đời dù biện bạch bằng các lý do này khác.Việc “đoạn trường” là “đáng kiếp”!  Tại sao lại có những nhận xét , đánh giá đó khi Nguyễn Công Trứ từng là một khách chơi phóng lãng, một quan gia thăng giáng thất thường? Con người từng bất chấp tất cả mà lại không thể vượt qua được thành kiến hẹp hòi với một ca nhi hay có gì ẩn khuất đằng sau?

Sự khác biệt về đối tượng và tình cảm thẩm mỹ

Phải chăng trong cách nhìn của Nguyễn Công Trứ: Kiều chỉ là kỹ nữ,dẫu tài năng nhan sắc bao nhiêu cũng chỉ là một khách chơi , là cái hồng nhan mà sinh thời ông rất coi thường, ông luôn là kẻ đứng trên là cha thằng xích tử. Đời ông trai kép lúc trẻ, lúc tham gia trận mạc, lúc về già, khi chùa chiền, khi vãn cảnh đều có dăm ba nàng áo đỏ, áo xanh theo hầu, bảy mươi tuổi còn đèo bòng thiếp trẻ, luôn luôn mải mê với cái cảnh “hoa lê áp hải đường”...Tất cả chỉ là thú chơi, “chơi hoa cho biết mùi hoa, cầm cân cho biết cân già hay non” thế thôi. Hoàng Phủ Ngọc Tường trong một bài viết cho rằng NCT ngoài “một bản lĩnh hành động” còn là “một tay chơi cuồng phóng”, gọi ông là “ tay chơi” là có cái lý của nó vì chính Nguyễn cũng tự nhận “sống để mà chơi”(3). Tân nhân, mỹ nữ, ca nương, khách hồng quần... đều là đối tượng của cái thú “phong nguyệt tình hoài”, trong cái thú này thì “trăng hoa” là mục tiêu,xướng ca là phương tiện, không có chỗ cho những Hiếu, Trung cao đạo. NCT hiểu sai và đánh giá thấp Kiều cũng nằm trong cái quỹ đạo suy nghĩ đó. Trong toàn bộ thi tập ca trù-hát nói của ông để lại , người phụ nữ không bao giờ xuất hiện như một đối tượng trữ tình mà cùng với ngón đàn điệu hát  chỉ xuất hiện như những “khách chơi”, biết múa hát đong đưa nhưng không có tâm trạng, như những hình nhân trong bộ sưu tập... Các nữ nhân trong thơ NCT đa phần là ca nhi nhưng ngón cầm ca của họ khác xa với Kiều hoặc các cô Hồ, cô Cầm ở đất Thăng long và cái cách thưởng thức của Tố Như và Uy Viễn cũng với những tâm trạng khác nhau. Với Nguyễn Du các nữ nhân mà ông  thường nhắc đến  như cô bạn hái sen, cô lái đò thời trẻ, cô Cầm người đẹp Long Thành, cô ca nữ ở nhà em trai, cô Hồ  bạn văn chương, hoặc như cô Tiểu Thanh, cô Thuý Kiều...trước hết đó là những con người cốt cách tao nhã, gần gũi, chịu nhiều oan khuất (phong vận kỳ oan), ông gửi gắm nơi họ  những tình cảm tri âm, tri kỷ xem họ là những khách đồng điệu. Nguyễn Du thương cảm và đánh giá cao Kiều cũng như nhiều khách má hồng khác, họ không là “khách chơi” như Nguyễn Công Trứ quan niệm, mà là những kẻ “liên tài, liên tình”, những kẻ “tài thì đáng trọng, tình thì nên thương” .  Nói đến các đào nương ,“ một hạng người thường bị rẻ rúng đương thời,  Ông không hạ mình xuống để thương vay mà thật sự tìm thấy mình trong họ”. Khóc cho những con người ấy là “khóc cho cuộc đời phong trần lận đận của chính mình và khóc cho cả những tài hoa Thăng Long bị vùi dập(4). Những con người đó không chỉ là những kẻ “phong vận kỳ oan”mà còn  là những “biểu tượng tài hoa của Thăng Long” , môi trường văn hoá đã ảnh hưởng  sâu sắc trong tâm hồn Nguyễn Du ngay từ thời niên thiếu  .Ta biết trong thiên tài của Nguyễn Du, ông đã thừa hưởng được cái tính dịu dàng và hào hoa của xứ Kinh Bắc nhờ ảnh hưởng đằng mẹ, đã hưởng được hào khí của đất Hồng Lam, hùng tâm của người xứ Nghệ, cùng là lòng tiết nghĩa, khiếu văn chương, do gia phong truyền lại trải bao nhiêu đời nhờ ảnh hưởng đằng nội. Thân sinh, quan đại tư đồ Nguyễn Nghiểm mất năm  Nguyễn Du mười tuổi,  mười ba tuổi mồ côi mẹ, suốt thời niên thiếu ở với anh tại Thăng Long.  Anh cả Nguyễn Du là Nguyễn Khản, một đại quan rất được chuá Trịnh Sâm sủng ái cũng là một người say mê và am tường nghệ thuật, văn chương.Nguyễn Du có một người em là Nguyễn Ức kém ông hai tuổi, thời Lê là một quan to, thời Nguyễn được phong tước hầu. Khi chưa loạn lạc, trong dinh quan Nguyễn Ức ở Thăng Long, thường có những ca kỹ, “ những người mặc áo hồng hát ca uyển chuyển” phục vụ mua vui cho các quan, có người tài sắc trở thành nàng hầu . Dấu vết đài các hoa lệ , không khí nghệ thuật cao nhã của kinh đô cùng với những tao nhân mặc khách, văn nhân, kỳ nữ thường lui tới để lại nhiều ấn tượng trong ký ức Nguyễn  không phải chỉ  là đề tài cho những thi phẩm sau này mà nó trở thành  một “nhân tố văn hoá Thăng Long” trong phong cách sống cũng như phong cách nghệ thuật của ông mà nhiều nhà nghiên cứu đã từng  nhắc đến .

Nói kỹ những điều này chúng tôi muốn lưu ý rằng trong đời sống cũng như trong  nghệ thuật của Nguyễn Du, nhân tố “văn hoá Thăng Long” trầm tích trong nhiều tác phẩm đặc biệt là ở mối quan hệ với các nhân vật nữ tạo nên cái nét riêng mà Thuý Kiều “ tài hoa mà phận bạc, đài các mà truân chuyên” là một điểm nhấn quan trọng  bộc lộ rõ quan điểm và tình cảm  thẩm mỹ của Nguyễn Du khác xa Nguyễn Công Trứ .Nếu bỏ qua điều này thì những lý giải khác  sẽ trở nên hời hợt.Cũng chính bởi vậy mà sự phê phán của NCT đối với Kiều có phần vừa khe khắt lại vừa hời hợt, phê phán mà không thấu hiểu.

Sự khác biệt về quan điểm lập thân. Nguyễn Du và nỗi buồn thời đại.

Như trên ta đã nói , nhận xét Kiều nhưng chính thực là nhằm vào Nguyễn Du,  không hiểu Kiều , NCT cũng không hiểu tâm trạng Nguyễn Du , nếu không nói là xa lạ . Lời nhận xét thật nặng nề ,ông cho việc làm quan dưới triều Nguyễn của Nguyễn Du là tầm thường, xu phụ thời cuộc, nỗi buồn của Nguyễn Du là giả dối !

So với Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ  có nhiều cái khác về xuất thân cũng như hành trạng. Nguyễn Du con người hai triều đại , gia đình đại quí tộc của triều đại cũ, chịu nhiều áp lực của thời cuộc,  triều Lê suy vi , nông dân Tây Sơn khởi nghĩa không hợp tác , triều Nguyễn khôi phục cơ đồ, bất đắc dĩ ra làm quan “thờ” chúa mới.Nguyễn Công Trứ  là sản phẩm của triều đại mới không có cái băn khoăn “trung thần bất sự nhị quân” như Nguyễn Du. Gia tộc Nguyễn Du là đại quí tộc, Nguyễn Công Trứ hàn nho vào đời bằng tài năng là chính ,thời trẻ trải nghiệm cuộc sống bình dân, về căn bản gắn với triều Nguyễn một cách lý tưởng , ông thuộc thế hệ hãnh tiến  hăng hái xốc tới không có cái mặc cảm đại quý tộc trước “một phen thay đổi sơn hà” của Nguyễn Du. Nguyễn Công Trứ về quê thì cười cợt “ thuyền quyên ứ hự, anh hùng biết chăng”,không có cái bâng khuâng khi nhớ  đến khúc sông ngày xưa “thuyền cha ta cờ xí rợp trời” như Nguyễn Du. Ghé Thăng Long , Nguyễn Công Trứ ngoài công vụ, tìm cái thú giang hồ  “phong nguyệt kho vô tận” , còn Nguyễn Du thì day dứt , bẽ bàng “ thành mới trăng xưa bóng lững lờ”. Nguyễn Công Trứ thấy khinh cái cảnh quan lại tham những đục khoét nhưng tôn sùng vua, nhận bổng lộc vua ban một cách ngưỡng vọng , ông không trải cái cảnh  anh em, bạn hữu bị lâm nạn, bị bức tử , bởi gian thần để nhận lộc vua ban mà thầm đau xót và lo lắng như Nguyễn Du. Việc ra làm quan của Nguyễn Du dưới triều Nguyễn là tình cảnh bất đắc dĩ, là bất khả kháng để bảo vệ mình và gia tộc chứ không phải vì mộng công hầu hoặc mưu tài lợi như thói thường. Hai nhân sinh quan , hai triết lý nghiệm sinh khác nhau nên không đồng cảm.

Nguyễn Du luôn mang một nỗi buồn lớn , cảm thấy bế tắc khó làm thay đổi cuộc đời  .Nguyễn Công Trứ thấy mình cải tạo được cuộc sống dân nghèo, còn Nguyễn Du đi khắp gầm trời kể cả sang Trung Hoa - nơi lý tưởng trong cách nhìn nho gia thời bấy giờ, cũng thấy đầy rẩy bất công, tàn bạo.

56 năm trong cuộc đời của Nguyễn , vui có, buồn có nhưng tổng thể là một cuộc đời thành đạt, làm quan đến bực á khanh, vua trọng vọng, triều thần vị nể, người đời yêu mến . Dẫu vậy ,việc sống buồn bã, tâm sự u uất luôn “rụt rè sợ hãi, chỉ vâng vâng dạ dạ cho qua chuyện thôi” là một điều có thật trong cuộc đời Nguyễn Du.Đối chiếu  hành trạng của Nguyễn, cần có cái nhìn toàn diện để hiểu và giải thích rõ cái tâm sự u hoài tại sao đeo đẳng ông mãi thế, dẫu có khi làm đến bậc Á khanh,được hoàng đế Gia Long trọng dụng. Khi mắc bệnh nặng ông nhất định không chịu uống thuốc, chỉ chờ chết cho xong.(5) Ông đã đem theo xuống mồ cái tâm sự u uất , khó hiểu ,  người đời chỉ ức đoán qua câu thơ Bất tri tam bách dư niên hậu /Thiên hà hà nhân khấp Tố Như ? Đây là cái điều mà xưa nay ai cũng quan tâm nhưng lý giải thì mỗi người một cách. Có người  cho là  Nguyễn Du  buồn vì tuy là quan nhưng  là người cựu triều nên không ít kẻ ghen ghét, kẻ thì nghĩ rằng Nguyễn  ở tân triều mà lòng khôn quên chúa cũ ,như là đã ngược lại dòng tộc , chẳng là dòng họ này bao đời  được người đời nể trọng vì truyền thống  trung nghĩa. Đi xa hơn, Nguyễn Công Trứ lại xem nỗi buồn của Nguyễn Du là giả dối ,muốn che lấp sự đàm tiếu của thiên hạ về việc “phản bội” lại Nhà Lê đã từng mưa ân tưới phúc cho gia đình.

Theo chúng tôi nghĩ , nỗi buồn  của Nguyễn Du không dừng lại ở cái nguyên nhân bé nhỏ là vì đồng sự ghen ghét hay mặc cảm về cái sự  “tôi trung không thờ hai chúa”như có người nhận xét , mà ở cái nỗi niềm lớn lao hơn. Đó là tấm lòng  yêu thương con người ,là phẩm cách của  một tâm hồn  cao thượng , cảm thấy những nghịch lý, những nghịch cảnh tồn tại ở mọi thời , mọi nơi, như là một định mệnh không tài nào thay đổi được .Ở quê hương  cũng như ở xứ người đều đầy rẫy những bất công,đau khổ. Tấm lòng nhân mênh mông pha mùi thiền, mùi đạo ở ông luôn cảm thấy bất lực, đó mới chính là cái điều sâu kín tạo nên nỗi u hoài khôn nguôi trong đời sống và là hồn cốt trong các sáng tác của Nguyễn.Nỗi u hoài, nỗi đau đáu của Nguyễn chúng ta từng gặp trên con đường thi ca một thuở trong nỗi sầu không thể nào vơi của tâm sự Lý Bạch : Cầm dao chặt nước nước cứ trôi, cất chén tiêu sầu, sầu không vơi (Trừu đao đoạn thuỷ thuỷ cánh lưu/Cử bôi tiêu sầu sầu cánh sầu- Tiễn biệt quan Hiệu thư Thúc Vân), cũng như cái cô đơn vô tiền khoáng hậu của Trần Tử Ngang: Trước không thấy người đi, Sau không thấy kẻ đến, Nghĩ trời đất phiêu du, Chỉ mình ta lệ chảy  (Tiền bất kiến cố nhân/ Hậu bất kiến lai giả/ Niệm thiên địa chi du du/ Độc sảng nhiên nhi lệ hạ - Đăng U châu đài ca ).   Dãi dầu mười mấy năm quan trường ,Nguyễn Du trước hoàn cảnh thường có một “tâm trạng kép” vừa mừng  vừa sợ , sợ cho mình và cả họ tộc  bị bức hại , mừng vì tai qua nạn khỏi, phủ định  nhưng vẫn phải làm tròn chức phận không thể thoái thác. Nguyễn chủ động trong tư duy nhưng có lúc thụ động trong hành động. Tâm trạng thể hiện trong câu thơ tự thán “hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên” . Phải chăng vì trạng thái nước đôi đó mà sau này Nguyễn Công Trứ đã “phê” Nguyễn thông qua lời nhận xét khắt khe về Thuý Kiềù, nhân vật mà Nguyễn Du có nhiều ký thác .

*
Chúng ta với nhãn quan hiện đại thấy rõ sự khác biệt ở hai ông ,suy cho cùng vẫn không ra ngoài cái ngưỡng triết lý dân gian “ở bầu thì tròn ở ống thì dài”. Nguyễn Công Trứ tuy có tài kinh bang tế thế nhưng là một vị quan gia đánh giá Kiều cực đoan cũng như ông vua Tự Đức xét đoán Từ Hải .Cụ Thượng Trứ sẽ chẳng bao giờ thông cảm với tâm trạng Nguyễn Du qua Thúy Kiều cũng như hoàng đế Tự Đức chẳng thể nào hiểu được ước mơ của Nguyễn Du qua Từ Hải ! Chỉ có nhà thơ Tố Như người của những nỗi đau thân phận mới xem Kiều là tri âm , Từ Hải là giấc mộng . Và chính nỗi cộng cảm nhân sinh lớn lao đó đã khiến  Nguyễn Du hơn thế kỷ sau trở thành một điểm sáng trong bầu trời  văn hoá nhân loại mặc dầu đương thời không khoả lấp được nỗi nghi ngờ ở một số người , trong đó NCT là một./.

Tháng 4 – 2008/7-2010

(1)  Đào Tử Minh -Văn truy điệu Nguyễn Du  - Hội Tri Tân, ngày 10/8 Giáp thân 1944
(2) Có bản chép : Đố  đem chữ Hiếu mà lầm được ai?(3 )Hoàng Phủ Ngọc Tường- Tay chơi - http://chutluulai.net/forums/showthread.php?p=32161
(4)  Nguyễn Huệ Chi - Biểu tượng đa nghĩa của Thăng Long trong thơ Nguyễn Du- Bài tham gia Hội thảo Gia tộc Nguyễn Du & Thăng long – 2010.Bà Trần Thị Tần , thân mẫu Nguyễn Du xuất thân cũng là một ca nương.
(5)  Theo Đại Nam liệt truyện: "đến khi đau nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ thưa đã lạnh cả rồi. Ông nói "được" rồi mất; không trối lại điều gì".


NGUYỄN DU VỀ LẠI THĂNG LONG  

Phạm Xuân Nguyên

Nỗi hoài niệm, ưu tư của Nguyễn Du trước Thăng Long lên đến đỉnh điểm khi gặp lại người con gái gảy đàn ở Long thành. Ông làm một bài thơ dài kể chuyện và giãi bày. Hơn thế, ông còn đề lời “tiểu dẫn” để nói cho rõ ngọn ngành. Cả Thăng Long trong mắt Nguyễn bấy giờ dồn lại ở “người gảy đàn không rõ họ tên là gì” ấy.

Nguyễn Du sinh tại phường Bích Câu năm 1765. Ông có cha và anh là quan đại thần dưới triều vua Lê chúa Trịnh, nhất là người anh Nguyễn Khản rất được chúa Trịnh Sâm tin dùng, thường vào ra phủ chúa hàng ngày, có lần còn viết giấy cho người nhà cầm sang xin chúa lạng chè về uống. Thuở thiếu thời và thanh niên, cậu chiêu Bảy (tên gọi ở nhà của Nguyễn Du) đã có những ngày tháng vui vẻ, thanh nhàn ở Thăng Long, dự những cuộc vui nghiêng ngả ở nhà anh, mắt thấy tai nghe mọi cảnh phố phường kinh đô. Thế rồi nhà Tây Sơn nổi lên, vua tàn chúa lụi, Thăng Long thành bãi chiến trường, Nguyễn từ đó xa đất đế đô, bươn chải mười năm gió bụi, tấm thân còn sống là may. Lịch sử thăng trầm dâu bể, hưng đó mà vong đó, nhà Nguyễn diệt Tây Sơn lập triều mới, thống nhất giang sơn, chuyển đô về Phú Xuân. Thăng Long từ 1802 thành cố đô, và từ 1831 đổi thành Hà Nội. Nhưng khi Nguyễn Du trở lại chốn kinh đô xưa trên đường đi sứ sang Trung Quốc (1813), vùng đất này vẫn đang là Thăng Long. Mười năm xa cách không phải là dài, nhưng những biến thiên đảo lộn trong khoảng thời gian ấy đối với Nguyễn thật ghê gớm. Trong mấy đêm nghỉ lại Thăng Long trên hành trình của sứ đoàn, ông Chánh sứ Nguyễn Du đã trằn trọc, thao thức trước cảnh vật biến thiên và đời người thay đổi. Nguyễn đã có bốn bài thơ chữ Hán làm nhân dịp này, hai bài về cảnh, hai bài về người.

Bài Thăng Long thứ nhất.

Tản lĩnh Lô giang tuế tuế đồng
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long
Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất phiến tân thành một cố cung
Tương thức mỹ nhân khan bão tử
Ðồng du hiệp thiếu tẫn thành ông
Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy
Ðoản địch thanh thanh minh nguyệt trung

Nguyễn trải lưu lạc mười năm “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, tâm trạng đã nặng nề. Về lại chốn cũ, gặp lại người xưa, lòng càng buồn. Núi Tản sông Lô (tên gọi khúc sông Hồng chảy qua Thăng Long hồi ấy) thì muôn đời vẫn thế, năm lại năm chẳng di dịch đi đâu. Nhưng dạo một vòng thành xưa, cảnh đã khác. Những ngôi nhà to có nghìn năm tuổi đã bị dỡ đi để làm đường lớn. Khu hoàng thành nhà Lê đã bị phá bỏ, thay vào đó là một tòa thành mới. (Việc này tiến hành vào năm Gia Long thứ tư, 1805). Ðường sá, nhà cửa làm mới, còn người thì già đi. Những cô gái đẹp xinh từng quen biết hồi trước giờ đã tay bồng tay mang. Những gã bạn cùng nhau chơi ngông một thuở nay đã nên ông cả.(Câu thơ dịch thoát sang lục bát Gái xinh giờ đã con bồng, Bạn quen giờ đã thành ông cả rồi nghe đậm ngậm ngùi). Nguyễn cũng đã đầu bạc, may còn được thấy Thăng Long. Thật ra năm đó Nguyễn chưa đến năm mươi, nhưng cái tuổi xấp xỉ ngũ tuần xưa đã tính là già, vả mái tóc bạc Nguyễn có từ sớm, hậu quả của những suy tư dằn vặt ngay từ hồi trẻ. Người như ông với những ấn tượng bời bời như thế trong ngày trở lại đế đô ngủ sao được. Nghe tiếng sáo thoảng đâu đây dưới ánh trăng sáng lòng càng dấy lên bao nỗi vấn vương u hoài. Nguyễn phải tự an ủi mình.


Bài Thăng Long thứ hai

Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành
Do thị Thăng Long cựu đế kinh
Cù hạng tứ khai mê cựu tích
Quản huyền nhất biến tạp tân thanh
Thiên niên phú quý cung tranh đoạt
Tảo tuế thân bằng bán tử sinh
Thế sự thăng trầm hưu thán tức
Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh

Thôi hãy tự nhủ lòng Thăng Long đây vẫn là chốn đế đô xưa, bởi còn đây vầng trăng ngày xưa, dẫu thành đã là thành mới. Ðường phố, ngõ phố mở mang bốn phía làm lạc dấu vết cũ. Tiếng đàn sáo nghe ra đã xen nhiều âm thanh mới. Giàu sang nghìn đời rồi ra chỉ là cái mồi cho sự tranh cướp. Bà con, bạn bè hồi trẻ giờ đã kẻ mất người còn. Hãy hình dung Nguyễn suốt đêm không ngủ, một mình chong mắt nhìn ánh trăng, chỉ còn trăng là bạn cũ không phôi pha, tâm tư cứ giăng mắc chuyện trước chuyện nay. Và ông như buông tiếng thở dài sờ tay lên tóc mình: việc đời chìm nổi thôi đừng than thở nữa, đầu ta cũng đã bạc phơ phơ rồi. Ðêm ấy Thăng Long như cũng chùng lòng một mái đầu bạc dãi ánh trăng thâu.

Nguyễn Du có một người em cùng mẹ là Nguyễn Ức kém ông hai tuổi, thời Lê là một quan to, thời Nguyễn được phong tước hầu. Khi chưa loạn lạc, trong dinh quan Nguyễn Ức, cũng như các dinh quan khác, thường có những nàng hầu kiêm ca kỹ phục vụ mua vui cho các quan, họ ở địa vị như những người vợ lẽ. Xảy lúc binh đao, nhà quan tan đàn xẻ nghé, các nàng hầu cũng thất tán. Lần về lại Thăng Long này, Nguyễn gặp lại một nàng hầu cũ như vậy của em mình.

Bài Ngộ gia đệ cựu ca cơ

Phồn hoa nhân vật loạn lai phi
Huyền hạc quy lai kỷ cá tri
Hồng tụ tằng văn ca uyển chuyển
Bạch đầu tương kiến khốc lưu ly
Phúc bồn dĩ hĩ nan thu thủy
Ðoạn ngẫu thương tai vị tuyệt ti
Kiến thuyết giá nhân dĩ tam tử
Khả liên do trước khứ thời y

Nguyễn đang đường đường một vai Chánh sứ, vậy mà ví mình như một ẩn sĩ chốn rừng xanh ra. Hình ảnh chim hạc đen (huyền hạc) là nói cái ý ấy. Giữa chốn quen thuộc mà như người lạ, mấy ai người biết mình đã về lại nơi này. Mấy ngày dừng chân Thăng Long là khoảng thời gian Nguyễn sống phân thân giữa quá khứ và hiện tại. Mỗi câu thơ đều song trùng thời gian. Nàng mặc áo hồng hồi trước hát ca uyển chuyển, giờ gặp lại ta đầu bạc, khóc nỗi lưu ly. Cái mất thì đã mất, như chậu nước đổ rồi không thu lại được nữa. Nhưng cái tình thì còn lưu luyến, như ngó sen gãy đường tơ vẫn dính. Mà sao nàng, nghe nói đã lấy người khác được ba con, vẫn còn mặc chiếc áo ngày ra đi. Nhìn chiếc áo, Nguyễn ái ngại, xót thương. Thăng Long, số phận một kinh thành, có trả lời được Nguyễn trước một màu áo không đổi của một nàng ca kỹ?

Nỗi hoài niệm, ưu tư của Nguyễn Du trước Thăng Long lên đến đỉnh điểm khi gặp lại người con gái gảy đàn ở Long thành. Ông làm một bài thơ dài kể chuyện và giãi bày. Hơn thế, ông còn đề lời “tiểu dẫn” để nói cho rõ ngọn ngành. Cả Thăng Long trong mắt Nguyễn bấy giờ dồn lại ở “người gảy đàn không rõ họ tên là gì” ấy. “Thuở nhỏ nàng theo học đàn Nguyễn trong bộ nữ nhạc cung vua Lê. Tây Sơn dấy binh, đội nhạc cũ chết chóc, tản mát. Nàng lưu lạc nơi đầu chợ, ôm đàn hát rong. Những bài nàng đàn đều là những khúc gảy hầu nhà vua, người ngoài không ai được nghe, cho nên nàng được khen là “tuyệt kỹ” của một thời. Tôi, hồi trẻ đến kinh đô thăm anh tôi, đêm trọ ở quán bên hồ Giám. Cạnh đấy các quan Tây Sơn tụ hội bọn con hát; con hát nổi tiếng không dưới vài chục người. Nàng riêng thạo đàn Nguyễn, hát cũng hay, lại khéo pha trò. Người xem đều mê mẩn, nhiều lần thưởng cho nàng những chén rượu lớn, nàng tức thì uống cạn, tiền lụa thưởng nhiều vô số kể, chất đầy mặt đất”. Chàng Nguyễn ngày trước đã thành ông Nguyễn, một ông quan, còn cô gái đàn hay, hát giỏi khi xưa đã thành ra sao, sau mười năm biến thiên đảo lộn? Hãy nghe Nguyễn kể tiếp: “Mùa xuân năm nay, tôi phụng mệnh sang sứ phương Bắc, trên đường qua Thăng Long, các quan có đặt tiệc tiễn tôi ở dinh Tuyên phủ nên cho gọi hết nữ nhạc trong thành, con hát trẻ đến mấy chục người, tôi đều không biết mặt biết tên. Họ thay nhau ca múa. Rồi nghe vút lên một khúc đàn Cầm trong trẻo, nghe khác hẳn các khúc nhạc đương thời. Tôi lấy làm lạ nhìn người đàn, thì thấy người gầy võ, thần sắc khô khan, mặt đen, xấu như quỷ, quần áo toàn bằng vải thô, bạc phếch, vá nhiều mảnh trắng, ngồi lặng lẽ ở cuối chiếu, không nói không cười, hình dáng khó coi quá. Tôi không biết là ai, duy nghe tiếng đàn thì dường như đã từng quen biết nên động lòng trắc ẩn. Tiệc tan, hỏi đến người chơi đàn thì ra chính người gảy đàn ngày xưa ấy. Than ôi, người ấy sao đến nỗi này! Tôi bồi hồi ngẩng lên cúi xuống, khôn xiết cảm thương cho sự đổi thay xưa và nay. Ðời người trăm năm, vinh nhục buồn vui khó có thể nào lường được”. Bài thơ Long thành cầm giả ca của Nguyễn Du là khúc bi tráng cho Thăng Long. Mảnh đất kinh đô đẫm huyền thoại, dày sử tích, nhiều dấu ấn các triều vua, giờ có thêm bóng dáng một người con gái đàn ca trải hai triều đại phủ lên các thành quách, dinh thự.

Khúc xưa giọng mới lệ thầm rơi
Ta lắng nghe lòng đau xót
Chợt nhớ lại việc hai mươi năm trước
Từng gặp nàng trong tiệc bên hồ Giám
Thành quách đổi dời, việc người đã khác
Biết bao nơi ruộng dâu đã biến thành biển xanh
Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tan hết cả rồi
Chỉ còn sót lại một người ca múa
Trăm năm như chớp mắt có là bao
Ðau lòng việc cũ lệ thấm áo
Tôi từ Nam Hà trở về đầu bạc trắng hết
Chẳng trách nhan sắc người đẹp tàn phai
Ðôi mắt mở trừng trừng luống tưởng chuyện ngày xưa
Thương thay giáp mặt nhau mà chẳng nhận ra nhau

Năm 1813 khi Nguyễn Du trên đường đi sứ ghé qua Thăng Long, đế đô cũ vừa qua tuổi tròn 800 năm. Nhà Nguyễn đang sắp đặt dấu ấn mình lên vùng đất nay đã thành cựu đế đô. Nguyễn Du nhìn cái mới buồn nhớ cái cũ. Những vần thơ ông để lại chứng tích cho ta một Thăng Long thuở ấy với những xáo động tâm trạng ông. Thêm gần hai trăm năm nữa qua, Thăng Long sắp 1000 năm tuổi, người nay cũng đang tìm lại dấu xưa, đọc lại thơ ông, thấy như Nguyễn đang về “song nhãn trừng trừng không tưởng tượng”.

Phạm Xuân Nguyên
Nhà phê bình Văn học
[Bản tin ĐHQG Hà Nội sô 215]


Xem thêm: www.foodcrops.vn
http://foodcrops.vn/en/van-hoa-giao-duc/day-va-hoc/433-nguyn-du-va-nguyn-cong-tr.html 
 



Chủ Nhật, 6 tháng 6, 2010

Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ


Hoàng Kim

ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM. Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ nơi “bia tàn chữ mất vùi gai góc/ nghe tiếng nghìn năm tôi xuống xe” càng cho thấy nhân cách kẻ sĩ và sự cảm thông của ông đối với Liễu Hạ Huê sâu sắc đến dường nào. Người hiền thực ra đời nào cũng có, thời thế nhiễu loạn, chẳng qua vàng lầm trong cát đấy thôi. Nguyễn Du là con quan tướng quốc Nguyễn Nhiễm cựu thần nhà Lê và mẹ ông là người phụ nữ tài sắc, vợ lẽ nhà quan, gặp lúc thế nước động loạn, chúa Trịnh, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn đều có ý riêng. Ông lớn lên trong cảnh lận đận không nhà, có tài mà không thể cậy. Ông là một đại sĩ phu tài năng trác tuyệt nhưng chỉ làm một viên quan thường triều Nguyễn mà vua vừa dùng, vừa tìm cách kiềm chế như đối với Nguyễn Công Trứ, Phan Huy Chú. Ông vì giỏi nên được vua Nguyễn cử đi sứ Tàu mà thôi. Thơ Nguyễn Du vì vậy kín đáo và sâu sắc hiếm thấy(Ảnh: Mộ Nguyễn Du ở Hà Tĩnh).
                                                                           *         
Để thấu hiểu những giá trị nhân văn đích thực, rất cần những khoảng lặng để đối diện với chính mình.  Hôm trước tôi đã có dịp cùng với những người bạn quý thảo luận về hành vi ứng xử của Liễu Hạ Huệ gần gũi với một người nữ mà ông không mang tiếng dâm tà. Nhờ việc tra cứu, đọc đi đọc lại nhiều lần bài thơ ‘Liễu Hạ Huệ mộ’ của cụ Nguyễn Du, tôi chợt sững người, nhận thức thêm được những nỗi niềm, của cụ Nguyễn lấp lánh sau những con chữ ...


柳下惠墓

吳店橋通泗水波
士師名蹟未消磨
事人直道寧三黜
作聖全功在一和
相對尼山長有魯
可憐盜跖已無家
碑殘字沒埋荒草
天古聞風一下車

Liễu Hạ Huệ mộ

Ngô Điếm kiều thông Tứ thủy ba
Sĩ Sư danh tích vị tiêu ma
Sự nhân trực đạo ninh tam truất
Tác thánh toàn công tại nhất hòa
Tương đối Ni Sơn trường hữu Lỗ
Khả liên Đạo Chích dĩ vô gia
Bi tàn tự một mai hoang thảo
Thiên cổ văn phong nhất há xa

Mộ Liễu Hạ Huệ (Dịch nghĩa)

Dưới cầu Ngô Điếm sông Tứ chảy
Tiếng tăm của bậc Sĩ sư vẫn chưa mất
Lấy đạo ngay thẳng thờ người, ba lần chịu mất chức
Nên công bậc thánh ở chữ "Hòa"
Đối mặt Ni Sơn, nước Lỗ còn mãi mãi
Thương cho Đạo Chích kẻ không nhà
Bia tàn chữ mất chôn vùi nơi cỏ hoang
Nghìn năm còn nghe tiếng, tôi xuống xe

(Dịch thơ: Đặng Thế Kiệt)

Sông Tứ dưới cầu Ngô Điếm qua
Danh thơm kẻ sĩ chửa phôi pha
Đạo ngay xử thế ba lần truất
Bậc thánh nên công một đức Hòa
Đối mặt Ni Sơn vinh nước tổ
Thương thân Đạo Chích hổ danh nhà
Bia tàn chữ mất vùi gai góc
Nghe tiếng nghìn năm tôi xuống xe

Muốn hiểu sâu được bài thơ trên, chúng ta cần đối chiếu cuộc đời và sự nghiệp của cụ Nguyễn với thân thế và hoàn cảnh của Liễu Hạ Huệ, nắm vững những địa danh và điển cố văn chương trong bài thơ. Bởi lẽ nếu không hiểu họ là ai, họ có những nét tương đồng nào thì không thể cắt nghĩa được vì sao cụ Nguyễn Du lại đồng cảm và kính trọng Liễu Hạ Huệ sâu sắc như thế “bia tàn chữ mất vùi gai góc/ nghe tiếng nghìn năm tôi xuống xe”.


NGUYỄN DU CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

Từ điển Bách khoa mở Wikipedia đã tóm tắt về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Du như sau: “Nguyễn Du (chữ Hán: 阮攸; 1766–1820), tên tự Tố Như (素如), hiệu Thanh Hiên (清軒), biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ (鴻山獵戶), là một nhà thơ nổi tiếng thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam. Tác phẩm lớn nhất của ông là tập Truyện Kiều dài 3.254 câu, một tập truyện thơ nôm viết theo thể lục bát với ý nghĩa thăng trầm, từ ngữ giai điệu phong phú mà hầu hết người Việt Nam đều biết tới. Ngoài ra, những tập Bắc hành tạp lục, Thanh hiên thi tập, Văn tế thập loại chúng sinh của ông cũng rất nổi tiếng. Ông được xem như là một nhà thơ lớn nhất Việt Nam từ trước đến nay, người Việt kính trọng gọi ông là "Đại thi hào dân tộc". Năm 1965, ông được UNESCO tôn vinh là danh nhân văn hóa thế giới.

Ông sinh ngày 03 tháng 01 năm 1766 tức ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh), nhưng sinh ra ở quê mẹ- làng Kim Thiều, xã Hương Mặc, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh [1] và trải qua thời thơ ấu ở Thăng Long. Ông thuộc dòng dõi trâm anh thế phiệt: cha là Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm làm tới tể tướng dưới triều Lê; mẹ là bà Trần Thị Tần, vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, người xứ Kinh Bắc (Nguyễn Nghiễm có 8 vợ, 21 người con). Anh khác mẹ (con bà chính) của ông là Toản Quận Công Nguyễn Khản làm tới Tham Tụng, Thái Bảo trong triều. Do là con thứ bảy nên Nguyễn Du còn được gọi là cậu Chiêu Bảy. Năm 1771, ông cùng gia đình Tể tướng Nguyễn Nghiễm chuyển về ở làng Tiên Điền. Năm 1775, lúc 10 tuổi Nguyễn Du mồ côi cha. Năm 1778, lúc mười ba tuổi mồ côi mẹ, ông phải ra Thăng Long ở với anh cả là Nguyễn Khản. Năm 1780, Nguyễn Du trở về làng Tiên Điền ở với người chú là Tiến sĩ Nguyễn Hành. Năm 1783, Nguyễn Du thi hương tại trường thi Nghệ An và đậu Tam trường. Vì lẽ gì không rõ, ông không tiếp tục thi lên nữa, mà đi nhận một chức quan võ ở Thái Nguyên, kế chân người cha nuôi của ông vừa mới từ trần. Năm 1789, Nguyễn Huệ kéo binh ra Bắc, đại thắng quân nhà Thanh. Nguyễn Du, vì tư tưởng trung quân phong kiến, không chịu ra làm quan cho nhà Tây Sơn. Từ năm 1789 đến năm 1795, ông sống ở Thái Bình- quê vợ. Năm 1796: Nguyễn Du dự định vào Gia Định cộng tác với Chúa Nguyễn, âm mưu bị bại lộ, bị nhà Tây Sơn bắt giam ba tháng. Từ 1797 đến năm 1802: Nguyễn Du ẩn dật tại Tiên Điền. Khi Nguyễn Phúc Ánh lật đổ nhà Tây Sơn Nguyễn Quang Toản, rồi mời Nguyễn Du ra làm quan; ông từ mãi mà không được nên miễn cưỡng tuân mệnh. Năm Gia Long nguyên niên (1802),ông làm tri huyện huyện Phù Dực (nay thuộc Tỉnh Thái Bình), rồi được ít lâu thăng tri phủ Thường Tín (Hà Đông). Năm 1805, ông được thăng Đông Các điện đại học sĩ, tước Du Đức Hầu. Năm 1809, ông làm cai bạ tỉnh Quảng Bình. Năm 1813, thăng Cần Chánh điện đại học sĩ, được cử làm Chánh Sứ đi Trung Quốc. Sau khi về nước, năm 1815, ông được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri. Theo Đại Nam Liệt Truyện: "Nguyễn Du là người ngạo nghễ, tự phụ, song bề ngoài tỏ vẻ giữ gìn, cung kính, mỗi lần vào chầu vua thì ra dáng sợ sệt như không biết nói năng gì..." Năm 1820, Minh Mạng lên ngôi, cử ông đi sứ lần nữa, nhưng lần này chưa kịp đi thì ông đột ngột qua đời. Đại Nam Liệt Truyện viết: "Đến khi đau nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ thưa đã lạnh cả rồi. Ông nói "được" rồi mất; không trối lại điều gì.

"Tác phẩm tiêu biểu của ông, ngoài kiệt tác Truyện Kiều nổi tiếng “mà hầu như người Việt Nam nào cũng nhớ cũng thuộc một đôi câu”, Nguyễn Du còn để lại Văn tế thập loại chúng sinh, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu; Thác lời trai Phường Nón (bằng chữ Nôm) Ba tập thơ chữ Hán điển hình là Thanh Hiên thi tập (viết khi làm quan dưới triều Nguyễn), Nam Trung tạp ngâm (viết khi làm quan ở Quảng Bình) Bắc hành tạp lục (viết khi đi sứ Trung Quốc). Một số bài thơ khác: Cảm Hứng Trong Tù, Đầu Sông Chơi Dạo, Đứng Trên Cầu Hoàng Mai Buổi Chiều, Đêm Đậu Thuyền Cửa Sông Tam Giang, Đêm Rằm Tháng Giêng Ở Quỳnh Côi, Lưu Biệt Anh Nguyễn, Mộ Đỗ Thiếu Lăng Ở Lôi Dương, Miếu Thờ Mã Phục Ba Ở Giáp Thành, Ngày Thu Gởi Hứng, Nói Hàn Tín Luyện Quân, Người Hát Rong Phủ Vĩnh Bình, Ngồi Một Mình Trong Thủy Các, Ngựa Bỏ Bên Thành, Ngày Xuân Chợt Hứng, Long Thành Cẩm Giả Ca, Tranh Biệt Cùng Giả Nghị, Qua Sông Hoài Nhớ Thừa Tướng Văn, Xúc Cảm Đình Ven Sông, Viếng Người Con Hát Thành La …”

LIỄU HẠ HUỆ: THÂN THẾ VÀ HOÀN CẢNH

Thi Viện của Đào Trung Kiên và Từ điển Wikipedia chép :Liễu Hạ Huệ (sinh 720 TCN, mất 621 TCN) tức Triển Cầm 展禽, tên Hoạch 獲, tự là Quý 季, người đất Liễu Hạ 柳下, nước Lỗ 魯, thời Xuân Thu 春秋, nổi tiếng là một chính nhân quân tử. Liễu Hạ Huệ làm Sĩ Sư, ba lần bị truất mà không bỏ nước. Có người hỏi, ông trả lời: "Lấy đạo ngay mà thờ người thì đi đâu mà không bị ba lần truất. Nếu lấy đạo cong thì hà tất phải bỏ nước của cha mẹ". Sau khi chết, được đặt tên thụy là Huệ 惠. Mạnh Tử khen ông là bậc thánh về Hòa (Thánh chi Hòa 聖之和).

Sách Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng Long , hồi thứ ba mươi chín “Triễn Hỉ vấn kế cùng Liễu Hạ Huệ” tóm tắt như sau:

“Trong lúc này, Tề Hiến Công vẫn có ý nối chí cha, nuôi mộng bá chủ chư hầu. Một hôm hỏi các quan đại phu: Tiên quân ta là Tề Hoàn Công lúc nào cũng lo đánh đông dẹp bắc, gây thế lực cho mình, chư hầu kính nể. Nay đến đời ta, chẳng lẽ cứ nằm im, trong khi các chư hầu mỗi ngày một mạnh? Ta còn nhớ năm trước vua Lỗ định giúp Vô Khuy chống cự với ta, hận ấy chưa trả. Nay Lỗ lại liên kết với Vệ và Sở, thế rất mạnh, nếu không trừ trước ắt sanh hậu họa. Vừa rồi , ta nghe nói nước Lỗ mất mùa, ta muốn thừa cơ đánh Lỗ, ý các ngươi thế nào? Quan thượng khanh Cao Lỗ nói: Nước Lỗ được nhiều nước giúp, ta đánh khó thắng nổi. Tề Hiến Công nói: Nếu ngồi nhà mà luận chưa chắc đã đúng. Cứ đem quân đến đánh thử một trận xem các nước chư hầu có ai giúp Lỗ chăng? Nói xong, cử binh kéo sang miền bắc nước Lỗ.

Quân thám thính về báo, Lỗ Hi Công nói: Nước ta đang lúc mất mùa, quân Tề lại kéo sang, vậy thì nên đánh hay hòa? Quan đại thần Tang Tôn Thần nói: Xin chúa công nhẫn nhục cho người đến giảng hòa với Tề, nếu không xong sẽ tính. Lỗ Hi Công hỏi: Hiện nay ai có thể lãnh trọng trách đó? Tang Tôn Thần nói: Tôi xin tiến cử Triển Hoạch, con quan Tư Không đời trước, làm quan Sĩ Sư, được phong ở đất Liễu Hạ. Người ấy nho nhã, thông minh lắm, chỉ vì chán ghét thói đời nên từ quan về sống cảnh an cư. Nay được người ấy đi chắc vua Tề phải kính trọng. Lỗ Hi Công nói: Tôi vẫn nghe tiếng người ấy, song hiện nay người ấy ở đâu? Tang Tôn Thần nói: Hiện nay nơi Liễu Hạ. Lỗ Hi Công liền cho người đến triệu Triển Hoạch, Triển Hoạch cáo bệnh không đến. Lỗ Hi Công hỏi Triển Hoạch cáo bệnh, bây giờ phải làm sao? Tang Tôn Thần nói: Triễn Hoạch còn có người em là Triển Hỉ dẫu quan chức nhỏ nhưng có tài ứng đối rất hay. Nay sai Triển Hỉ đến nhà Triển Hoạch hỏi xem dùng cách gì để ứng đối với vua Tề.

Lỗ Hi Công theo lời, sai Triển Hỉ đến Liễu Hạ. Triển Hỉ theo lệnh đến nơi vào yết kiến Triển Hoạch, thuật lại ý muốn của Lỗ Hi Công và sứ mệnh của mình. Triển Hoạch nói: Vua Tề sang đánh ta là ý muốn noi công nghiệp của Tề Hoàn Công ngày trước, nhưng không biết muốn làm bá chủ phải tôn phù Thiên tử nhà Chu. Nay ta đem di mệnh của Tiên vương ngày xưa mà trách vua Tề thì thiếu gì cách nói. Triển Hỉ trở về nói với Lỗ Hi Công: Tôi đã hỏi được cách ứng đối với vua Tề rồi.

Lỗ Hi Công liền phát lễ vật sai Triển Hỉ đến thương thuyết với vua Tề (…). Triển Hỉ nói với vua Tề: Chúa công tôi nghe xa giá nhà vua sang địa giới nước tôi nên sai tôi đến đây để tiến dâng lễ vật. Tề Hiến Công hỏi: Người Lỗ nghe ta đem quân sang đánh có sợ chăng? Triển Hỉ đáp: Có những bọn tiểu nhân thì sợ thật nhưng những người quân tử thì không chút gì sợ hãi. Tề Hiến Công nói: Hiện nay nước ngươi không có ai mưu trí như Thi Bá, cũng không có ai vũ dũng bằng Tào Tuệ, ngoài đồng lại bị mất mùa, cây cỏ vàng úa . Thế thì cậy vào đâu mà không sợ hãi? Triển Hỉ nói: Nước tôi không cậy tài cũng không cậy của, chỉ cậy có một điều là di mệnh của Tiên vương mà thôi. Tiên vương nhà Chu ta ngày xưa phong Thái công nơi đất Tề, phong Bá nơi nước Lỗ, khiến hai nước uống huyết ăn thề: “Con cháu sau này đời đời cùng giúp nhà Chu, không làm hại lẫn nhau”. Lời thề ấy còn chép trong sử sách hai nước. Trước kia Tề Hoàn Công lên làm bá chủ cũng vì hội chư hầu nơi đất Kha để giúp Thiên tử, nay hiền hầu bỏ đường lối ấy mà dùng vũ lực uy hiếp các nước chư hầu, trái với lời thề của Tiên vương, làm sao nên được? Tôi dám chắc hiền hầu không bao giờ làm trái đạo. Bởi vậy, nước tôi không sợ hãi. Tề. Hiến Công nghe nói nghĩ thầm, rồi bảo Triển Hỉ: Ngươi về nói lại với Lỗ hầu, ta xin cùng nước Lỗ giảng hòa. Nói xong truyền lui binh về nước

"BẮC HÀNH TẠP LỤC" VÀ "LIỄU HẠ HUỆ MỘ"

Thơ chữ Hán của Nguyễn Du có Bắc hành tạp lục, Nam trung tạp ngâm và Thanh Hiên thi tập. Thi Viện http://www.thivien.net/ đến nay đã thu thập được 226 bài trong đó “Bắc hành tạp lục” có 132 bài, Nam Trung tạp ngâm 16 bài và Thanh Hiên thi tập 78 bài. Lời thơ điêu luyện, theo cách nói của Mai Quốc Liên thì: "Thơ chữ Hán của Nguyễn Du là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa. Nó mới lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa".

“Liễu Hạ Huệ mộ” là một tuyệt phẩm của Nguyễn Du trong “Bắc hành tạp lục”. Năm Gia Long thứ mười một 1813, Nguyễn Du được thăng chức Cần Chánh điện đại học sĩ và được cử làm Chánh Sứ đi Trung Quốc từ khoảng giữa năm 1813 đến gần cuối năm 1814. Trên hành trình muôn dặm của một sứ thần, Nguyễn Du đã đến nước Lỗ (tỉnh Sơn Đông ngày nay) nơi có ngọn núi Thái Sơn hùng vĩ, đất thiêng khởi phát của nhà Chu và tộc Hán, nơi quê hương và an nghỉ của Khổng Tử (Trọng Ni) với lời cảm khái của Tư Mã Thiên “ Kinh Thi nói: Núi cao ta trông , đường rộng ta đi, Tuy đích chưa đến nhưng lòng hướng về̀. Tôi đọc sách của họ Khổng, tưởng tượng như thấy người. Đến khi đến Lỗ, xem nhà thờ Trọng Ni, nào xe cộ, nào áo, nào đồ tế lễ, học trò tập về nghi lễ ở nhà Khổng tử theo đúng từng mùa, tôi bồi hồi nán lại, bỏ đi không dứt. Trong thiên hạ các vua chúa và người tài giỏi rất nhiều, khi sống thì vinh hiển, nhưng lúc chết là hết. Khổng Tử là một người áo vải thế mà truyền hơn mười đời, các học giả đều tôn làm thầy, từ thiên tử đến vương hầu ở Trung Quốc hễ nói đến lục nghệ đều lấy Khổng Tử làm tiêu chuẩn. Có thể gọi là bậc chí Thánh vậy!”.

Nguyễn Du tìm đến viếng mộ Liễu Hạ Huệ, người Sĩ Sư ba lần bị biếm chức. Liễu Hạ Huệ có người em trai là kẻ trộm (Đạo Chích) với bia miệng người đời “chó nhà Đạo Chích sủa vua Nghiêu”. Ông cũng có người em trai là Triển Hỷ “chỉ làm một chức quan nhỏ”. Việc Vua Lỗ triệu kiến ông đi làm sứ thần, ông đã cáo ốm không đến nhưng kế sách châu ngọc của ông qua sự vấn kế của Triển Hỷ thì đã tránh cho dân chúng được cái thảm họa chiến tranh. Nguyễn Du đến thăm mộ Liễu Hạ Huệ nơi “bia tàn chữ mất vùi gai góc/ nghe tiếng nghìn năm tôi xuống xe” càng cho thấy nhân cách kẻ sĩ và sự cảm thông của ông đối với Liễu Hạ Huê sâu sắc đến dường nào.

Những người hiền xưa nay thực ra đời nào cũng có, thời thế nhiễu loạn, chẳng qua vàng lầm trong cát đấy thôi. Nguyễn Du là con quan tướng quốc Nguyễn Nhiễm cựu thần nhà Lê và mẹ ông là người phụ nữ tài sắc, vợ lẽ nhà quan, gặp lúc thế nước động loạn, chúa Trịnh, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn đều có ý riêng. Ông lớn lên trong cảnh lận đận không nhà, có tài mà không thể cậy. Ông là một đại sĩ phu tài năng trác tuyệt nhưng chỉ làm một viên quan thường triều Nguyễn mà vua vừa dùng vừa tìm cách kiềm chế như đối với Nguyễn Công Trứ, Phan Huy Chú. Ông vì giỏi nên được vua Nguyễn cử đi sứ Tàu mà thôi. Thơ Nguyễn Du vì vậy kín đáo và sâu sắc hiếm thấy.

Bài thơ thật cô đọng, tài tình và tuyệt hay! Cầu Ngô Điểm, sông Tứ, núi Ni, ba lần truất, thánh chi hòa "Đối mặt Ni Sơn, nước Lỗ còn mãi, thương cho Đạo Chích kẻ không nhà" Mỗi câu thơ là những cụm từ chìa khóa với tình ý mênh mang. Viếng mộ Liễu Hạ Huệ, viết Truyện Kiều là Nguyễn Du đã gửi gắm tâm sự và sự trăn trở của người sỉ phu trí thức thời loạn như thân phận nàng Kiều và Liễu Hạ Huệ vậy.

                                                                                  *

Hôm nay, nhân việc các con ở xa về, gia đình tôi đi dâng hương ở Văn miếu Trấn Biên để biết  ơn gương sáng của những người có công với nước. Buổi khuya, tôi đọc đi đọc lại nhiều lần những ghi chép của Thùy Dương về bình luận của Nguyễn Khắc Phê với tiểu thuyết Nguyễn Du của Nguyễn Thế Quang. Tôi chép lại bài đã đăng cùng các cảm nhận của bạn hữu và bổ sung thêm những tư liệu mới.

Hoàng Kim


BÌNH LUẬN 

Nguyễn Lâm Cúc

NLC đọc lần thứ hai bài viết này, mở mang thêm hiểu biết dù chưa thấu đáo. Xin cảm ơn anh Hoàng Kim. Chúc anh khỏe va hạnh phúc nhiều Hoang…

Hoàng Kim 

Cám ơn Lâm Cúc, Đây là một trong những bài văn mình tâm đắc. Mình cho rằng Nguyễn Du không chỉ là danh nhân văn hóa thế giới, nhà thơ lớn mà còn là một nhân cách lớn với tư duy thiên tài của một Tể tướng đầu triều nước thịnh, chúa sáng, tôi hiền, chẳng qua ông không gặp thời đấy thôi. Viết Truyện Kiều, viếng Khuất Nguyên, viếng Đỗ Phủ, viếng Liễu Hạ Huệ ... là những đồng cảm sâu sắc của ông về thân phận và cảnh ngộ...

Hà Linh 

Chào anh Hoàng Kim. HL đã đọc nhiều lần lời chia buồn và động viên của HK và các anh chị em trên trang HL và hoibloghanoi, các tin nhắn qua điện thoại mà HL vẫn còn lưu. Xin cám ơn tận đáy lòng tất cả mọi người, đã dành cho HL tình cảm thật sâu sắc và chân tình. HL đã xin phép anh Tạo đưa lời cám ơn lên trang chung của Hội blogger Hà Nội.  Xin chúc HK và các anh chị em luôn vui khoẻ, hạnh phúc và mọi điều tốt lành nhất.  HL sẽ cố gắng thu xếp công việc gia đình và cơ quan, để sớm trở lại vui vẻ cùng mọi người.

bulukhin 

Tôi vẫn bảo lưu ý kiến là có nhân vật Liễu Hạ Huệ, bằng chứng là sách Đông Chu để hẳn cả hồi thứ 39 nói về ông với tiêu đề: Triển Hỉ hỏi kế Liễu Hạ Huệ. Ngụy Thù đốt nhà Hỉ Phụ Cơ . Bằng chứng hùng hồn hơn cả đó là Nguyễn Du đã đến viếng mộ ông và có thơ “Liễu Hạ Huệ mộ”. Những nhân vật quân tử Tàu của đất Hoa hạ thiếu gì mà người ta phải bỏ công hư cấu ra nhân vật Liễu Hạ Huệ ? Và có hư cấu thì hà tất phải làm lăng mộ mà sau này Nguyễn Du đến viếng. Trong comment mới nhất ở trang Catu, ông Đông A có vẻ nghe thủng những gì Buluk và Hoàng Kim nói.

Về thơ chữ Hán Nguyễn Du thì nói thật, Buluk tôi chưa đủ hiểu biết mà bàn cho sâu. Chỉ biết đại để là lâu nay khi nói đến Nguyễn Du người ta chỉ nhắc đến Truyện Kiều, chứ ít ai nói đến thơ chữ Hán của ông. Trong quyển Nguyễn Du – về tác giả và tác phẩm của Trịnh Bá Đĩnh biên soạn thì phần viết về Truyện Kiều chiếm 815 trang trong khi phần viết về thơ chữ Hán chỉ có 128 trang. Nếu làm một cuộc thống kê tương tự thì sự cảm thụ của các cây bút uy tín như Hoài Thanh, Xuân Diệu, Nguyễn Lộc …tỷ lệ cũng tương tự. Có sự chênh lệch này bởi Truyện Kiều dễ làm nao lòng trước những gì đau xót gợi thái độ cảm thương, nó coi trọng cái đẹp cảm tính hơn lý tính. Thực ra, Truyện Kiều chỉ là diễn âm, “lỡ tay” mà thành kiệt tác, còn thơ chữ Hán mới đich thị là sáng tác và phải xem nó là phát ngôn viên chính thức của Nguyễn Du. Nói cách khác, nếu ở Truyện Kiều người ta mới thấy tấm lòng và tài năng thì tới thơ chữ Hán người ta mới thấy được cả tầm vóc và bản lĩnh của Nguyễn Du.

Bắc hành thi tập được ông làm chủ yếu vào đợt đi sứ 1813-1814. Đây là lúc ông sống ở xứ người, có dịp rủ bỏ hết nhiễu nhương trong cuộc sống thường nhật của một “hàng thần lơ láo” để nhìn về đất nước. Ông sống với con người và cảnh vật xứ người một cách hết lòng, không chỉ suy nghỉ về hiện tại mà còn thường xuyên trở lại với quá khứ, không chỉ thương xót hoàn cảnh khốn khó của những người dân thường như ông già hát rong ở Thái Bình, hoặc bốn mẹ con một người hành khất, mà còn đặt mình vào tình thế của nhân vật kì vĩ hội tụ những vấn đề lớn của đời sống, như Khuất Nguyên, Kinh Kha, Tô Tần , Nhạc phi, Tần Cối, Liễu Hạ Hạ Huệ…Ông dùng những nhân vật lịch sử Trung Hoa để liên hệ tới hoàn cảnh của mình, trương tự như việc ông dùng cốt truyện mượn từ Thanh Tâm tài nhân để nói xã hội Việt Nam. Những câu thơ hay nhất ở đây dường như đã chạm tới những vấn đề của nhân loại. Học giả Phan Ngọc có nói “Văn Hóa Việt Nam có phần nhẹ chất nhân loại mà nặng chất dân tộc”. Rõ ràng Truyện Kiều và đặc biệt thơ chữ Hán của Nguyễn Du đã góp phần bổ sung cho sự thiếu sót đó.

Hoàng Kim

Tôi rất tán đồng với những ý kiến này của bác Bu: "Nếu ở Truyện Kiều người ta mới thấy tấm lòng và tài năng của Nguyễn Du thì tới thơ chữ Hán người ta mới thấy được cả tầm vóc và bản lĩnh của ông. Bắc hành tạp lục được ông viết chủ yếu vào đợt đi sứ 1813-1814. Đây là lúc ông sống ở xứ người, có dịp rủ bỏ hết nhiễu nhương trong cuộc sống thường nhật của một “hàng thần lơ láo” để nhìn về đất nước. Ông sống với con người và cảnh vật xứ người một cách hết lòng, không chỉ suy nghỉ về hiện tại mà còn thường xuyên trở lại với quá khứ, không chỉ thương xót hoàn cảnh khốn khó của những người dân thường như ông già hát rong ở Thái Bình, hoặc bốn mẹ con một người hành khất, mà còn đặt mình vào tình thế của nhân vật kì vĩ hội tụ những vấn đề lớn của đời sống, như Khuất Nguyên, Kinh Kha, Tô Tần, Nhạc Phi, Liễu Hạ Huệ… Ông dùng những nhân vật lịch sử Trung Hoa để liên hệ tới hoàn cảnh của mình, trương tự như việc ông dùng cốt truyện mượn từ Thanh Tâm tài nhân để nói xã hội Việt Nam. Những câu thơ hay nhất ở đây dường như đã chạm tới những vấn đề của nhân loại. Học giả Phan Ngọc có nói “Văn Hóa Việt Nam có phần nhẹ chất nhân loại mà nặng chất dân tộc”. Rõ ràng Truyện Kiều và đặc biệt thơ chữ Hán của Nguyễn Du đã góp phần bổ sung cho sự thiếu sót đó." Trong việc tìm hiểu di sản văn hóa của ông cha thì "Bắc hành tạp lục" của Nguyễn Du là viên ngọc quý. Vượt lên thời gian, những áng thơ đó thể hiện trình độ uyên bác, hiểu biết ngôn ngữ văn hóa Trung Hoa điêu luyện và nhân cách kẻ sĩ cao quý của ông xứng tầm với Đỗ Phủ, Khuất Nguyên, Tô Đông Pha ... Tôi thực tâm đắc với ý kiến của học giả Mai Quốc Liên "Thơ chữ Hán của Nguyễn Du là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa. Nó mới lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa". Chạm đến phần thơ chữ Hán của danh nhân văn hóa Nguyễn Du là chúng ta đang chạm đến phần cốt lõi, tinh túy của thơ Người trong di sản văn hóa quý giá của dân tộc. Nhiều học giả Việt Nam thời gian qua tuy đã thu thập, tìm hiểu nhưng vì điều kiện chiến tranh, ngôn ngữ văn hóa, hạn chế thư tịch điển cố văn chương ... nên chưa tìm hiểu hết.

Minh

Sức sống mãnh liệt nhất của văn học dân gian là truyền khẩu. Đó là điều dễ hiểu giải thích vì sao "Truyện Kiều" lại được đánh giá cao như vậy. Nguyễn Du quả thật có rất nhiều tâm trạng khi "miễn cưỡng" làm quan triều Nguyễn. Những bài thơ chữ Hán của ông luôn chứa đựng những nỗi niềm sâu thẳm. Có gì như luyến tiếc về một thời. 昇龍其一, 昇龍其二 (Thăng Long kỳ 1, kỳ 2), 新秋偶興 (Tân thu ngẫu hứng), 秋日寄興 (Thu nhật ký hứng)... Mấy bài cháu đọc đều toát lên cảm giác ấy

Tư liệu và trao đổi (mời đọc và viết ở đây)
http://www.facebook.com/hoangkimvietnam

Thứ Hai, 17 tháng 5, 2010

Lên Yên Tử nhớ đức Nhân Tông


Kinh Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu.
Sách Nhàn đọc giấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim...
Trần Nhân Tông


Người ơi con đến đây tìm
Non thiêng Yên Tử như tranh họa đồ
Núi cao trùng điệp nhấp nhô
Trời xuân bảng lãng chuông chùa Hoa Yên

Thầy còn dạo bước cõi tiên
Con ươm mầm sống xanh thêm ruộng vườn
Mang cây lộc trúc về Nam
Ken dày phên giậu ở miền xa xôi

Cư trần lạc đạo, Người ơi
Tùy duyên vui đạo sống đời thung dung
Hành trang Thượng sĩ Tuệ Trung
Kỳ Lân thiền viện cành vươn ra ngoài

An Kỳ Sinh trấn giữa trời
Thơ Thiền lưu dấu muôn đời nước non ...

Hoàng Kim
(ảnh và sưu tầm thơ đức Nhân Tông
tại
http://thovanhoangkim.blogspot.com/ )

Thứ Sáu, 9 tháng 4, 2010

Dòng sông quê hương




Hãy học thái độ của nước mà đi như dòng sông

Hoàng Kim

Nhà mình gần ngã ba sông
Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình
Linh Giang sông núi hữu tình
Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con

Chèo thuyền cho khuất bến Son
Để con khỏi chộ nước non thêm buồn

Câu ru quặn thắt đời con
Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ

Ra đi từ bấy đến chừ
Lặn trong sương khói bến đò sông quê
Ngày xuân giữ vẹn lời thề
Non sông mở cõi, tụ về trời Nam.


For Smyrni by Stamatis Spanoudakis


River hometown
Hoang Kim

Learning the attitude of water that goes like the river

My house is near a confluence
Rao Nan, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh River charming Mountain River
The place where I was born.

"Rowing far away the SON wharf
Not to see our village that makes me sadder "
Lullaby makes me heart- rending
My parents died early when I was a baby.

Leaving our village since then
Diving in smog from the wharf of our river
Keeping full oath in Spring days
When the country unify, we’ll live together in the South

English translation
by Ngocphuong Nam

LINH RIVER

Hoang Kim
Learning the attitude of water that goes like the river
By confluence sited is my home
Rao Nam, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh river of charming
That is place releasing a person

Rowing out of the Son
Let is the upset not involved in my mind
Such a sad lunlaby
Parents is dead left five child barren

Leaving home since then
Smog of wharf is driven my life
When Vietnam unified
The South chosen the homeland to live.

English translation
by Vu Manh Hai


Xem thêm:
Linh Giang 

Ai cũng có một dòng sông quê hương, dòng sông tuổi thơ đong đầy kỹ niệm, với Tế Hanh đó là Nhớ con sông quê hương, với Anh Thơ, Ngọc Lan những giọng ca vàng sống mãi với thới gian đó là khúc hát sông quê nhớ về dòng sông quê hương thao thiết chảy, với  tôi  đó là Linh Giang dòng sông quê hương  ...

Nhà mình gần ngã ba sông
Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình






Khúc hát sông quê (ca sĩ Anh Thơ)


Dòng Sông Quê Hương (ca sĩ Ngọc Lan) 


xem tiếp

Sông Gianh chín nhịp cầu


Tâm tình với sông Gianh


Ðôi bờ sông Gianh



“LINH GIANG” LÀ SÔNG NÀO ?
Bulukhin (Nguyễn Quốc Toàn)
Đang Chưa biết viết gì lên blog thì báo Quảng Bình có thư gửi Bu mời viết báo xuân và báo tết. Xong được một bài Bu post lên multi mời các bạn đọc chơi và nếu có có lời góp ý chỉ bảo thì Bu tui cảm ơn lắm
Đã từ lâu, người dân Quảng Bình và những ai quan tâm đến sử ký, địa lý nước nhà, đều nghĩ rằng sông Gianh trước đây có tên là Linh Giang. Nhưng mới đây, tạp chí Xưa & Nay – Hội khoa học Lịch sử Việt Nam số 341 tháng 10 năm 2009 đăng bài viết của ông Tôn Thất Thọ có tựa đề “LINH GIANG” LÀ SÔNG NÀO? Ông dẫn ra các tư liệu lịch sử có đề cập đến tên Linh Giang, rồi chọn lấy tư liệu nào có niên đại cổ nhất để kết luận Linh Giang là tên cũ của sông Hương Thừa Thiên Huế, chứ không phải tên cũ của sông Gianh ở Quảng Bình. Tóm tắt bài viết của ông Thọ như sau:
1- Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC) được biên soạn trước năm Tự Đức 29 (1875) viết: “Sông Linh Giang (sông Gianh): ở cách huyện Bình Chính 3 dặm về phía nam, bờ bắc thuộc huyện Bình Chính, bờ nam thuộc huyện Bố Trạch, lại có tên là sông Thanh Hà (ĐNNTC, T.2, sđd, tr40). Như thế thì ĐNNTC được biên soạn vào thời điểm sớm nhất cách nay cũng đã 134 năm.
2- Dư địa chí do ông Nguyễn Trãi soạn năm 1434 có đoạn viết: “Hải cập Vân, Linh Duy, Thuận Hóa. Hải, Nam Hải dã. Ải, sơn dã. Linh, thủy danh. Thuận Hóa, cổ Việt Thường bộ” (dịch: Bể cùng núi Vân, sông Linh là ở Thuận Hóa – Bể là bể Nam Hải. Vân là Ải Sơn. Linh là tên sông. Thuận Hóa xưa là bộ Việt Thường)
3- Ô Châu cận lục do Ông Dương Văn An nhuận sắc năm 1553 đã chép rất rõ ràng về tên gọi sông Linh Giang: “Sông Linh Giang . Sông do hai nguồn Kim Trà và Đan Điền chảy vào, rộng sâu vô cùng, khúc uốn quanh co rất hữu tình. Phía tây nam có đền thờ Tứ Vị và trạm dịch Địa Linh. Phía đông bắc có chùa Sùng Hóa và bia Hoằng Phúc. Các nha môn như hiến ty, huyện đường, chưởng vệ đều đặt ven hai bên sông” (ÔCCL, Sđd, tr.24). Đền chùa danh lam: Chùa Sùng Hóa. Chùa ở xã Lại Ân huyện Tư Vinh trước có sông Linh Giang bao bọc, sau có đầm lớn vòng quanh, phía nam có sông Hòa Tài, phía bắc có bia Sùng Phúc….đây là ngôi chùa nổi tiếng ở Hóa Châu (ÔCCL tr.78)
4- Phủ Biên tạp lục do ông Lê Quý Đôn soạn năm 1776 đã chép: “Sông cái Đan Điền nguồn ở rất xa, bờ nam bờ bắc sông đều có dân cư, thành lớn Thuận Hóa ở về hạ lưu. Huyện Kim Trà ở ngả. Ba sông Kim Trà …” (PBTL, Sđd, tr.96) … “Từ bến các xã phường Lộc Điền Lũ Đăng đi thuyền theo sông Đại Linh là phía hữu sông, Đại Linh tức sông Gianh , qua hai xã Vân Lôi, La Hà, đến ngả ba là chỗ sông Gianh và sông Son gặp nhau” (PBTL, Sđd, tr.101) 

5- Để xác định thêm một lần nữa vị trí chùa Sùng Hóa, tác giả viết: “Về vị trí chùa Sùng Hóa, sách Đại Nam nhất thống chí, T.1, quyển 2 phủ Thừa Thiên chép: “ở xã Triêm An huyện Phú Lộc. Năm nhâm dần bản triều Thái tổ thứ 45 thuyền ngự qua xã này nhận thấy phía đông bắc bờ sông cây cối xanh tươi, chim đàn lượn đỗ, lấy làm thích, bèn dừng thuyền ngắm cảnh, thấy có di tích chùa cổ, sai sữa chữa lại và cho tên hiện nay. Nay không biết chỗ nào” (ĐNNTC, T.1 Sđd, tr.183). Sau khi dẫn ra các tư liệu trên, ông Thọ kết luận “Qua các địa danh và vị trí địa lý đã dẫn chứng trong các tư liệu có trước khi ĐNNTC ra đời (mà cụ thể là Ô Châu cận lục), như KimTrà, Đan Điền huyện Tư Vinh …ta thấy rằng Linh Giang là tên gọi chỉ con sông Hương ở Thừa Thiên – Huế chứ không phải là sông Gianh như các sử thần nhà Nguyễn đã chép!”
*
* *
Người viết bài này đã đối chiếu những tư liệu mà ông Thọ trích dẫn và thấy rằng ông dẫn đúng như những gì mà sách in ra. Tuy nhiên cùng một sự việc mà tư liệu này ghi khác tư liệu kia, lại được tác giả dẫn ra cùng một lúc làm người đọc rối rắm khó hiểu, dẫn đến sức thuyết phục bài viết giảm đi. Chẳng hạn ở mục 3, sách Ô Châu cận lục khẳng định “Chùa Sùng Hóa ở xã Lại Ân huyện Tư Vinh trước có sông Linh Giang bao bọc, sau có đầm lớn vòng quanh”, nhưng đến mục 5 tác giả lại trích ĐNNTC bảo rằng Chùa Sùng Hóa “ở xã Triêm An huyện Phú Lộc”. Ai cũng biết sông Hương được tính từ ngả ba Bằng Lãng, nơi gặp nhau của nguồn Tả Trạch và nguồn Hữu Trạch cho đến cửa biển Thuận An dài 33 km làm sao mà chảy qua địa phận huyên Phú Lộc được. Cũng ở mục 3, ông Dương Văn An viết trong Ô Châu cận lục: “Phía tây nam (sông Linh Giang) có đền thờ Tứ Vị và trạm dịch Địa Linh. Phía đông bắc (sông Linh Giang) có chùa Sùng Hóa và bia Hoằng Phúc”. Như vậy, tên chùa Sùng Hóa có từ thời nhà Mạc, nhưng đến mục 5 thì tên chùa Sùng Hóa lại do “…Bản triều Thái tổ thứ 45 thuyền ngự qua xã này nhận thấy phía đông bắc bờ sông cây cối xanh tươi, chim đàn lượn đỗ, lấy làm thích, bèn dừng thuyền ngắm cảnh, thấy có di tích chùa cổ, sai sửa chữa lại và cho tên hiện nay”. Vậy thì tên chùa Sùng hóa do bản triều Thái tổ thứ 45 đặt ra hay đã có từ thời nhà Mạc. Và cứ theo ông Lê Quý Đôn (mục 5) nói rằng sông Đại Linh là sông Gianh. Chữ nôm: “sông” trước hai chữ “Đại Linh” là cách nói nửa nôm nữa Hán, vậy nếu nói thuần túy theo từ Hán Việt thì sông Đại Linh chính là Đại Linh Giang. “Đại” ở đây là tính từ chỉ sự lớn, còn Linh Giang là danh từ chỉ tên sông. Đương nhiên lớn để so sánh với nhỏ, vậy xin dẫn ra đây vài số liệu nói về quy mô giữa sông Gianh và sông Hương.
- Chiều dài: Sông Gianh 160 km, sông Hương 30 km
- Lưu lượng trung bình: Sông Gianh 252 m3/s, sông Hương 179m3/s
- Diện tích lưu vực: Sông Gianh 4.680 km2, sông Hương 713 km2

Cũng cần nói thêm, từ Gianh không có nghĩa, nó chỉ là phương ngữ của người miền bắc chỉ cây cỏ tranh, trong thành ngữ “nhà gianh vách đất”. Tôi tin là người Quảng Bình từ xa xưa không dùng từ Gianh vô nghĩa đặt cho tên sông, mà do biến thể của một từ nào đó chẳng hạn từ ranh trong “ranh giới” thời Trịnh Nguyễn phân tranh, hoặc từ “Giang” trong Đại Linh Giang như đã nói. 

Và cứ cho là sông Hương đã từng có tên là Linh Giang thì việc trùng tên giữa hai con sông cũng không có gì lạ. Ở Việt Nam ta việc trùng địa danh khá nhiều: Chẳng hạn Thừa Thiên – Huế có phá Hạc Hải thì huyện Quảng Ninh của Quảng Bình cũng có đầm Hạc Hải. Quảng Bình có sông Nhật Lệ thì ở Hà Tĩnh cũng có núi Nhật Lệ ở địa phận hai xã Ngụy Dương và Đại Nại (ĐNNTC . tập 2, tr. 90, nxb Thuận Hóa 1992). Vậy thì có hai sông Linh Giang, một lớn ở Quảng Bình và một nhỏ ở Thừa Thiên Huế cũng là chuyện thường. Người viết bài này cho rằng các sử quan của Quốc sử quán triều Nguyễn khi viết Đại Nam nhất thống chí không thể không tham bác các sách Ô Châu cận lục, Dư địa chí, Phủ biên tạp lục. Thậm chí họ còn tham bác cả Tấn thư Châu quận chí mà học giả Đào Duy Anh trích ra trong “Đất nước Việt Nam qua các đời” (nxb Thuận Hóa 1994). Ở trang 80 sách này viết: “Tấn thư Châu quận chí nói rằng năm Thái Khang thứ 10 chia quận Tây Quyển mà lập huyện Thọ Linh, sông Thọ Linh là sông Linh Giang”. Thái Khang thứ 10 là năm 290 đời vua 

Vũ Đế thời Tây Tấn cách nay khoảng 1719 năm. Ngày nay huyện Thọ Linh không còn nữa nhưng Thọ Linh vẫn là tên của một thôn thuộc xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình. Hai chữ Thọ Linh minh chứng cho lời ghi của Tấn thư Châu quận chí như đã trích dẫn. Vậy, Phủ biên tạp lục gọi sông Gianh là sông Đại Linh, tức là Đại Linh Giang, dân chúng nói gọn hơn: Linh Giang, hoàn toàn phù hợp với Đại Nam nhất thống chỉ của Quốc sử quán triều Nguyễn vậy.

 

Trở về trang chính
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2010

Chùm thơ xuân người Quảng Bình tại Đồng Nai


Đầu xuân họp mặt đồng hương 
 Quảng Bình quê mẹ yêu thương ân tình

“TÔI SAY ngãi, tôi say tình

 Tôi say tình nghĩa Quảng Bình từ lâu” (1)



“Năm nào mình cũng gặp nhau
Để lưu luyến hát một câu ân tình
Quê ta QUÊ MẸ QUẢNG BÌNH (2)
Chang chang cồn cát Bảo Ninh vời vời”


“Em từ quê mẹ vào đây
Lặng nghe EM HÁT (3) mê say lòng người
Hát hay - em đẹp nụ cười
Mà sao dịu ngọt những lời em ca”


“Dẫu cho sống chốn phồn hoa
Đừng quên KHOAI SẮN QUÊ NHÀ (4) lớn lên”


Thơ xuân của bác Đăng Trình

Dạt dào tình nghĩa  QUẢNG BÌNH QUÊ TÔI (5)

Quê tôi tên gọi Quảng Bình
Đầu Mâu, Hạc Hải nặng tình biết bao
Sông Gianh chia cắt năm nào
Lũy Thầy, Đồng Hới chiến hào bao quanh

Uy nghi một thuở vang danh
Lý Hòa, Nhật Lệ sông xanh núi ngàn
Phong Nha, Thạch Động, Đèo Ngang
Ba Đồn, Thuận Lý, Sông Ròn, Cảnh Dương

Hải trình thuận nẽo thông thương
Vào Nam ra Bắc thuận đường bán buôn
Trường Dục, Long Đại xuôi nguồn
Xuân Bồ chiến thắng vang đồn tiếng xa

Cánh đồng Lệ Thủy bao la
Vàng tươi bông lúa Xuân Hòa mít thơm
Mỹ Đức dòng nước Kiên Giang
Đại Phong, An Xá hai làng nổi danh

Xa xa từng lũy tre xanh
Ruộng đồng bát ngát bên nhành lúa thơm
Bình minh soi ánh nắng hồng
Đẹp thôn vui xóm ấm lòng tình quê

Chiều vàng rọi xuống bờ đê
Thênh thang mục tử đề huề lưng trâu
Quê hương nghĩa nặng tình sâu
Tha hương vẫn nhớ ngàn câu ân tình

Vấn vương ơi quê Quảng Bình ”

Nguyễn Hoài Nhơn góp một chùm thơ hay
 ĐÔI LỜI VỚI SÔNG ĐỒNG NAI (6)
Tập thơ “Tự biết” nối lời yêu thương

Nói gì với sông Đồng Nai
Mà lòng thắc thỏm giữa hai đợt triều
Nói gì cho thỏa thương yêu
Để cù lao Phố mỗi chiều đứng trông


Vắng em tôi nhớ tôi mong
Lục bình pha mực giữa dòng lơ mơ
Ngày tôi chưa biết làm thơ
Tóc em đã bím chấm bờ vai thon

Biên Hòa hương bưởi ngát thơm
Níu chân tôi ở cuối vườn sớm mai
Bồn chồn con sóng Đồng Nai
Vỗ vào giấc ngủ tôi hoài chưa tan

Vệt phù sa cháy nồng nàn
Hay là ruột đất bazan đượm màu
Trái cây chín đỏ cù lao
Đợi người về hái mời nhau thực lòng

Gặp em ở cuối dòng sông
Câu thơ tôi hóa cánh đồng vàng mơ
Thương nhau tháng đợi năm chờ
Câu thơ kết mật bây giờ… vấn vương

Nói gì cho thỏa yêu thương
Mắt em in dáng quê hương đậm đà
Đồng Nai ơi mãi thiết tha
Tôi xin làm hạt phù sa dâng người



Thơ xuân tôi tặng cho đời
Còn tôi THẰNG NHÓC (7) tôi mời tặng tôi
Quê xa níu lại hình hài
Đêm thiêng rục rịch phút hồi sinh con (8)

“Gắng chút con trai muộn mằn qua cơ cực
Cha đã già trước tuổi cả chục năm
Mong con lớn như cây, con lớn như cục đất
Cha cứ thế ước ao, mẹ cứ thế mừng thầm!

Con ôm cổ cha, con dụi đầu vào ngực mẹ
Thằng cu con non nớt nhất nhà ta
Con chùn chụt mút tay như mút kẹo
Bản năng gốc mà con, bản năng gốc ấy mà …

Con là khúc gậy cha vin lúc tắt nắng
Lập cập chân đi, uể oải đốt lưng còng
Nhập nhoạng ngõ trâu, bão về, đêm rét muộn
Con là cây đời lực lưỡng trước gió giông

Cha chẳng dám nghĩ gì nhiều con trai ạ !
Đỉnh núi cao kia, biển lớn ngoài xa
Con hãy tập tểnh bước chân mình từ bậc thềm nhà thứ nhất
Và tự ngẫng cao đầu lên … thế giới sẽ mở ra”


Đất nước nghìn năm mở lối về Nam
Vời vợi một PHƯƠNG TRỜI THƯƠNG NHỚ (9)
Chốn đất thiêng chim phượng hoàng làm tổ
Dâng trái thơm quả ngọt cho đời

“Em đã đọc nhiều gương sáng danh nhân
Hãy biết nhục biết hèn mà lập chí
THẮP ĐÈN LÊN ĐI EM (10), ngọn đèn dầu bền bỉ
Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin…”

“Xuân đến ước về quê thăm Bác
Nghĩa tình quê mới NHỚ QUÊ (11) xa
Bâng khuâng nhìn nước Linh Giang chảy
Sương khói Đèo Ngang gợi nhớ nhà”

Hoàng Kim

Trích dẫn và giới thiệu
một số bài thơ xuân được góp nhặt tình cờ trong tiệc rượu họp mặt đồng hương Quảng Bình tại Đồng Nai  chủ nhật ngày 28 tháng 2 năm 2010 do Ban Liên Lạc Hội Đồng Hương Quảng Bình tổ chức. Trưởng ban liên lạc là bác sĩ, thầy thuốc nhân dân Từ Thanh Chương. Nội dung gồm: 1) Tôi say của Nguyễn Quốc Thái 01687748902; 2) Quê mẹ Quảng Bình của Hoàng Văn Thành 0913941058; 3) Em hát của Đỗ Xuân Hòa 0908851106; 4) Khoai sắn quê nhà và 5) Quảng Bình quê tôi của Đăng Trình  01684723972; 6) Đôi lời với sông Đồng Nai; 7) Thằng nhóc 8) Đêm vượt cạn của Nguyễn Hoài Nhơn;  9) Phương trời thương nhớ (trích);  10) Thắp đèn lên đi em (trích); Nhớ quê của Hoàng Kim

Em ơi em, can đảm bước chân lên


Nguyễn Khoa Tịnh

Thầy ước mong em
noi gương Quốc Tuấn


Đọc thơ em, tim tôi thắt lại 
Lòng nghẹn ngào, nước mắt chảy rưng rưng 
Nửa xót xa nhưng nửa lại vui mừng 
Xót xa vì đời em còn thơ dại 
Mới tuổi thơ mà cuộc đời đầy khổ ải 
Mới biết cười đã phải sống mồ côi 
Như chiếc thuyền giữa biển tự trôi 
Như chiếc lá bay về nơi vô định 
“Bụng đói” viết ra thơ em vịnh: 

“Cơm ngày một bữa sắn trộn khoai 
Có biết lòng ta bấy hỡi ai? 
Vơi vơi lòng dạ, cồn cào bụng 
Kể chi no đói, mặc ngày dài” 


Phải! 
Kể chi no đói mặc ngày dài 
Rất tự hào là thơ em sung sức 
Rất tự hào là em tôi đầy nghị lực 
Đã hiển lộ mình qua “Cái chảo rang” 

“Trung dũng ai bằng cái chảo rang 
Lửa to mới biết sáp hay vàng 
Xào nấu chiên kho đều vẹn cả 
Chua cay mặn ngọt giữ an toàn 
Ném tung chẳng vỡ như nồi đất 
Quăng bừa xó bếp vẫn nằm ngang 
Tốt đẹp đâu cần danh tiếng hão 
Bạn cùng lửa đỏ, nóng chang chang”


Phải! 
Lửa to mới biết sáp hay vàng! 
Em hãy là vàng, 
Mặc ai chọn sáp! 
Tôi vui sướng cùng em 
Yêu giấc “Ngủ đồng” 
Hiên ngang khí phách: 

“Sách truyền sướng nhất chức Quận công 
Ta sướng khi ra ngủ giữa đồng 
Lồng lộng trời hè muôn làn gió 
Đêm thanh sao sang mát thu không 
Nằm ngữa ung dung như khanh tướng 
Lấy mấy vần thơ tỏ nỗi lòng 
Tinh tú bao quanh hồn thời đại 
Ngủ đồng khoan khoái ngắm gương trong” 


Tôi biết chí em khi "Qua đèo Ngang” 
Ung dung xướng họa với người anh hùng 
Đã làm quân thù khiếp sợ: 

“Ta đi qua đèo Ngang 
Cũng gặp Người trèo qua núi hiểm 
Đỉnh dốc chênh vênh 
Xe mù bụi cuốn 
Có lẽ thiên nhiên đã định bao giờ 
Một dãy Hoành Sơn bát ngát trận đồ 
Điệp điệp núi cao 
Trùng trùng rừng thẳm. 
Người thấy 
Súng gác trời xanh 
Gió lùa biển lớn 
Nông dân rộn rịp đường vui 
Thanh Quan nàng nhẽ có hay 
Cảnh mới đã thay cảnh cũ. 
Ta hay 
Máu chồng đất đỏ 
Mây cuốn dặm khơi 
Nhân công giọt giọt mồ hôi 
Hưng Đạo thầy ơi có biết 
Người nay nối chí người xưa 

Tới đây 
Nước biếc non xanh 
Biển rộng gió đùa khuấy nước 
Đi nữa 
Đèo sâu vực thẳm 
Núi cao mây giỡn chọc trời 

Nhớ thù nhà, luống thẹn làm trai 
Thương dân nước, thà sinh phận gái 
“Hoành Sơn cổ lũy” 
Hỏi đâu dấu tích phân tranh? 
Chỉ thấy non sông 
Lốc cuốn, bốn phương sấm động. 

Người vì việc nước ra đi 
Ta muốn cứu dân nên thăm trận thế 
Điều không hẹn mà xui gặp mặt 
Vô danh lại gặp hữu danh 
Cuộc đời dài ắt còn sẽ gặp nhau 
Nay hội ngộ giữa đỉnh cao trời đất 
Anh em ta ngự trên xe đạp 
Còn Người thì lại đáp com măng 
Đường xuyên sơn 
Anh hùng gặp anh hùng 
Nhìn sóng biển Đông 
Như ao trời dưới núi. 

Xin kính chào 
Bậc anh hùng tiền bối 
Ta ngưỡng mộ Người 
Và tỏ chí với non sông 
Mẹ hiền ơi! 
Tổ Quốc ơi! 
Xin tiếp bước anh hùng!” 


Hãy cố lên em! 
Noi gương danh nhân mà lập chí 
Ta với em 
Mình hãy kết thành đôi tri kỷ! 
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương 
Tôi tự hào bài “Tỏ chí” của em: 

"Quốc Tuấn ngày xưa chí vững bền 
Thù nhà, nợ nước chẳng hề quên 
Đến bữa quên ăn, đêm quên ngủ 
Thương dân, yêu nước quyết báo đền 
Văn hay thu phục muôn người Việt 
Võ giỏi kinh hồn lũ tướng Nguyên 
Mươi năm sau nữa ơi ông Tuấn 
Nối chí ông, nay cháu tiến lên!” 


Tôi thương mến em 
Đã chịu khó luyện rèn 
Biết HỌC LÀM NGƯỜI ! 
Học làm con hiếu thảo. 
Mười lăm tuổi đã “Tập làm thầy giáo” 

Vui gì hơn buổi đầu làm thầy giáo 
Của lớp vở lòng đất mẹ yêu thương 
Trưa nắng luyến các em cùng đến lớp 
Giọng líu lo như chim hót ven đường. 

Đứng trước các em tuổi nhỏ đáng yêu 
Mà đã tưởng tới bao nhiêu người lớn 
Nghe em đọc giọng thanh thanh dễ mến 
Mà đã nghe đất nước xuyến xao mình!


Tổ Quốc đang chờ em phía trước. 
Em ơi em, can đảm bước chân lên!

1970